Tin tức -Sự kiện 
Giới thiệu chung 
Kinh tế - Xã hội 
Xúc tiến đầu tư tỉnh Tiền Giang năm 2010 
Danh mục Dự án kêu gọi đầu tư 
Đào tạo - Bồi dưỡng 
Thủ tục hành chính 
Tổ công tác thực hiện   Đề án 30 
Văn hóa - Du lịch  
Văn nghệ 
Kỷ lục Tiền Giang 
Số liệu Thống kê 
Giá cả thị trường 
Các doanh nghiệp 

Lịch làm việc của lãnh đạo

Thư điện tử

Lịch cúp điện - nước

Dự báo Thời Tiết tỉnh Tiền Giang

Thư viện Tiền Giang giới thiệu sách mới

Công ty cổ phần ô tô Trường Hải

Thủ tục hành chính

Tiền Giang - tiềm năng và cơ hội đầu tư

Địa chí Tiền Giang

Sàn giao dịch việc làm Tiền Giang

Festival trái cây Việt Nam

Diễn đàn hợp tác kinh tế đồng bằng sông Cửu Long

Hướng về biển đảo quê hương

Danh mục mởi gọi đầu tử tỉnh Tiền Giang năm 2013

Định hướng đẩy mạnh xuất khẩu trái cây ĐBSCl




 Địa chí Tiền Giang / Địa lý tư nhiên

Chương hai: Địa lý tự nhiên

II. KHÍ HẬU

Vị trí địa lý là một trong những nhân tố có tác động quyết định đến đặc điểm khí hậu của một địa phương. Tỉnh Tiền Giang có tọa độ địa lý ở vào tọa độ 10o11’43’’ và 10o35’19’’ vĩ tuyến Bắc, 105o49’12’’ và 106o48’32’’ kinh tuyến Đông.  

Với vị trí như trên, Tiền Giang nằm gọn trong khu vực nhiệt đới Bắc bán cầu. Tiêu biểu cho chế độ nhiệt và có độ cao mặt trời lớn, ít thay đổi trong năm. Do vậy Tiền Giang có khả năng tiếp nhận một lượng bức xạ rất dồi dào. Lượng bức xạ đó đã quyết định khí hậu Tiền Giang mang tính chất nhiệt đới, gió mùa cận xích đạo. Các yếu tố khí hậu như: nắng, bức xạ, nhiệt độ, bốc hơi, mưa, độ ẩm không khí, gió… được phân bổ theo mùa trong năm khá rõ nét. Quy luật phân bổ này khá ổn định qua các năm và ít thay đổi trong không gian.

1. Nắng

Tiền Giang nằm ở vĩ độ thấp của vùng nhiệt đới, mặt trời chiếu sáng quanh năm, nên có cảm giác ban ngày dài hơn ban đêm. Hằng năm ở Tiền Giang có thời kỳ dài 6 - 7 tháng mùa khô ít mây nên rất dồi dào về ánh sáng. Vì mùa khô nắng nhiều nên còn gọi là mùa nắng. Tiền Giang là nơi có tổng số giờ nắng trong năm (trước năm 1995) cao nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long (2.709 giờ), thấp nhất là tỉnh Cà Mau 2.226 giờ. Tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 3 (298 giờ). Tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 9 (165 giờ, Bảng 1). Mùa nắng trung bình mỗi ngày có gần 10 giờ nắng, mùa mưa giờ nắng trong ngày giảm xuống còn khoảng 5,5 giờ.

Bảng 1: Số giờ nắng tháng, năm trung bình nhiều năm (Giờ)

TT Tháng

Trạm

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Ghi chú
1

2

3

4

5

6

Mỹ Tho

Tân An

Bến Tre

Cần Thơ

Tân SơnNhất

Cà Mau

273

270

264

254

249

234

269

263

260

249

241

226

298

291

288

276

270

247

261

258

255

243

236

222

220

217

214

206

202

168

192

189

189

183

178

147

192

189

186

183

176

156

180

180

177

174

169

147

165

162

162

159

159

144

192

189

189

183

180

151

219

261

213

207

202

182

248

245

252

233

226

202

2709

2669

2649

2552

2448

2262

Max

 

 

 

 

Min

(Tuyển tập nghiên cứu KTTV 1976-1982. Đài Khí tượng thủy văn TP.HCM 1983)

Theo Niên giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Tiền Giang xuất bản năm 2002, 2003, 2004, số giờ nắng trong các năm như sau:
- 1995: 2.420,9 giờ
- 1998: 2.546,9 giờ
- 1999: 2.181,2 giờ
- 2000: 2.251,4 giờ
- 2001: 2.252,6 giờ
- 2002: 2.610,9 giờ
- 2003: 2.356,0 giờ
- 2004: 2.534,3 giờ

2. Nhiệt độ

Với lượng bức xạ dồi dào đã quyết định Tiền Giang là tỉnh có nền nhiệt độ cao và ổn định. Do nền nhiệt độ cao, nên một trong những đặc điểm nổi bật của khí hậu ở Tiền Giang là tính chất nóng. Nhiệt độ trung bình trong năm là 26,60C. Nhiệt độ tối cao trung bình năm 33,20C. Nhiệt độ tối thấp trung bình năm là 21,60C. Nhiệt độ tháng trung bình nhiều năm biến đổi từ 24o8 (tháng 1) đến 28,40C (tháng 6). Sai biệt tối đa của nhiệt độ trung bình các tháng trong năm là 3,60C. Tuy nhiên do tính chất biến động của khí hậu, nên trong từng năm cụ thể có sự xê dịch của tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất.

Theo Niên giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Tiền Giang xuất bản năm 2002, 2003, 2004, nhiệt độ trung bình hàng năm từ năm 1995 đến nay như sau:
- 1995: 26,70C
- 1998: 27,40C
- 1999: 26,60C
- 2000: 26,70C
- 2001: 26,90C
- 2002: 27,00C
- 2003: 26,80C
- 2004: 26,80C

Bảng 2: Đặc trưng nhiệt độ tháng - Trạm Mỹ Tho (oc)

Tháng

Chỉ số

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
TB

TBmax

TB min

24,8

31,6

18,4

25,8

32,8

20,4

27,2

34,7

21,0

28,4

35,3

23,3

28,2

35,2

23,5

27,3

33,3

22,9

27,0

33,3

22,9

26,6

32,6

22,5

26,6

32,8

22,5

26,5

32,3

22,7

26,1

31,8

20,6

25,1

31,5

18,9

26,6

33,2

21,6

TB: Trung bình.

Tiền Giang có lợi thế là chế độ nhiệt cao và ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp với nhiều loại cây trồng nhiệt đới có nhiều vòng sinh trưởng trong năm. Nếu đảm bảo được điều kiện nước tưới tiêu cho cây trồng thì canh tác sẽ thực hiện được quanh năm. Việc canh tác hoàn toàn có thể chủ động về phương diện nhiệt và khí hậu; vì sự phân hóa nhiệt độ theo từng địa phương trong toàn tỉnh là không đáng kể.

3. Bức xạ

Lượng bức xạ Mặt trời ở Tiền Giang lớn và ổn định. Lượng bức xạ tổng cộng trung bình ngày lớn nhất vào tháng 3 (548 Calo/cm2/ngày) và nhỏ nhất vào tháng 9 (397 Calo/cm2/ngày). So với những nơi khác của đồng bằng sông Cửu Long, Tiền Giang là nơi có tổng lượng bức xạ lớn nhất (444 Calo/cm2/ngày) và nhỏ nhất tại Cà Mau (406 Calo/cm2/ngày). (Bảng 3).

Bảng 3: Bức xạ (Calo/cm2/ngày)

TT Tháng

Trạm

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Ghi chú
1

2

3

4

5

6

Mỹ Tho

Tân An

Bến Tre

Cần Thơ

Tân SơnNhất

Cà Mau

450

448

468

434

417

452

519

512

506

494

478

470

548

541

534

521

506

530

510

510

503

489

476

459

447

447

440

432

421

388

416

410

416

408

391

364

411

412

404

403

392

372

398

398

398

398

385

362

397

390

391

391

383

370

402

401

402

397

381

359

413

412

407

403

387

375

418

410

406

397

386

373

444

441

440

431

417

406

Max

 

 

 

 

Min

TB: Trung bình.
(Tuyển tập nghiên cứu KTTV 1976-1982 đài KTTV TP.HCM 1983)

Với chế độ nắng, bức xạ, nhiệt như vậy, cây trồng có thể phát triển quanh năm ở nhiều tầng. Trong nông nghiệp có thể gieo trồng ba vụ lúa trong năm, nếu có điều kiện về đất và nước, chuyển dịch thời vụ ít có ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng. Cần chú ý rằng với một môi trường như vậy, sâu bệnh cũng có điều kiện để phát triển.

4. Độ ẩm

Độ ẩm  ở Tiền Giang có quan mật thiết với chế độ mưa, do chế độ gió mùa quyết định. Vì vậy chế độ độ ẩm biến đổi theo mùa. Tuy nhiên, sự chênh lệch độ ẩm qua các tháng không lớn. Độ ẩm trung bình tháng thay đổi từ 76,7% (tháng 3) đến 87,3% (tháng 9) sai biệt tối đa của độ ẩm trung bình giữa các tháng là 10,6%. Độ ẩm trung bình năm 82,7%; độ ẩm tối cao trung bình năm 93,2%; độ ẩm tối thấp trung bình năm 65,2%.

Theo Niên giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Tiền Giang xuất bản năm 2002, 2003, 2004, độ ẩm tương đối trung bình hàng năm từ năm 1995 đến nay như sau:
- 1995: 84,2 %
- 1998: 84,9 %
- 1999: 85,9 %
- 2000: 84,6 %
- 2001: 82,1 %
- 2002: 79,8 %
- 2003: 84,0 %
- 2004: 85,3 %

Bảng 4: Đặc trưng độ ẩm tháng - Trạm Mỹ Tho (%)

Tháng 

 Đặc trưng

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
TB

TB max

TB min

80,0

93,5

59,1

77,9

90,6

57,5

76,7

89,5

55,7

78,4

90,0

57,9

82,1

93,6

62,7

85,1

94,0

71,2

85,5

94,5

70,9

85,9

94,3

72,6

87,3

94,7

71,6

86,1

95,2

70,5

84,9

94,6

69,0

82,5

93,9

63,6

82,7

93,2

65,2

 

5. Gió

Gió ở Tiền Giang thuộc về chế độ gió mùa. Một năm có hai mùa gió: mùa gió mùa Đông Bắc và mùa gió mùa Tây Nam. Gió mùa đông bắc, hằng năm vào giữa tháng 10 hoặc muộn hơn một chút, vào hạ tuần tháng 10, các khối không khí lạnh được hình thành từ Bắc Băng Dương, Xibéri di chuyển về phía nam gây ra những đợt gió mùa Đông Bắc, ảnh hưởng tới tận những miền vĩ độ thấp trong đó có tỉnh Tiền Giang. Gió thường thổi theo hướng: đông bắc, đông và đông nam. Trong đó chủ yếu là hướng đông và đông nam và được nhân dân địa phương gọi là gió “chướng”. Thời gian hoạt động của gió chướng trong năm bắt đầu từ cuối tháng 10 và kết thúc vào cuối tháng 4 tới trung tuần tháng 5 năm sau. Khả năng xuất hiện gió chướng tăng dần từ đầu mùa (tháng 12) và đạt cực đại vào tháng 2 hoặc 3, sau đó giảm dần (xem bảng 5).

 

Bảng 5: Tần suất gió chướng các tháng - Trạm Mỹ Tho (1979-1985) (%)

Tháng 11 12 1 2 3 4 5
Tần suất xuất hiện 31 33 61 74 73 57 23

 

Tại Mỹ Tho, tốc độ gió chướng trung bình đạt từ 3-5m/s và gió chướng mạnh có tốc độ lớn hơn hoặc bằng 9m/s. Số ngày có gió chướng mạnh trong năm không nhiều, có khoảng 25-40 ngày và thường xảy ra vào tháng 2 hoặc tháng 3. Hướng của gió chướng mạnh thường là đông hoặc đông nam.

Đặc điểm của gió chướng là phát triển theo từng đợt. Mỗi đợt từ khi phát triển cho đến lúc yếu khoảng từ 4 đến 6 ngày. Trong một ngày, gió chướng cũng không duy trì tốc độ mạnh liên tục, chỉ xảy ra trong vài ba giờ là cùng và thường xuất hiện vào lúc xế chiều, khi mà sự chênh lệch nhiệt độ giữa đất liền và biển đạt lớn nhất trong ngày.

 Gió mùa Tây Nam thổi từ Ấn Độ Dương mang theo hơi ấm và ẩm. Hướng gió thịnh hành: nam, tây nam và tây. Trong đó chủ yếu là hướng tây nam. Thời gian hoạt động bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 9 và mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 8 (Bảng 6).

Bảng 6: Tần suất gió mùa Tây Nam - Trạm Mỹ Tho (1979-1985) (%)

Tháng 5 6 7 8 9 10
Tần suất xuất hiện % 34 62 65 74 54 21

Tại Mỹ Tho, tốc độ gió trung bình đạt khoảng từ 3 đến 5m/s. Tốc độ có thể đạt tới cấp 9 hoặc hơn, thường xảy ra khi có giông, tố, lốc với diện tương đối hẹp.

 Bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ). Tiền Giang rất ít khi có bão đổ bộ trực tiếp vào mà chủ yếu chịu ảnh hưởng khi có bão hoặc ATNĐ hoạt động ở nam biển Đông hoặc đổ bộ vào khu vực miền Trung. Khi có tình thế thời tiết trên, ở Tiền Giang gió không mạnh và có nhiều mưa. Ở nam biển Đông, bão và ATNĐ đều có khả năng xuất hiện vào các tháng trong năm. Trong đó, bão và ATNĐ tập trung nhiều vào các tháng 9, 10, 11 và 12, các tháng 1, 2, 3, 4 và 5 khả năng xuất hiện nhỏ (nhỏ hơn 5%) (Bảng 7).

Bảng 7:  Tần suất bão và ATNĐ ở phía Nam Biển Đông (1961-1980) (%)

Tháng 6 7 8 9 10 11 12
Tần suất xuất hiện % 6,3 5,1 3,8 12,7 16,4 31,6 10,1

Trong năm các tháng 5, 10, 11 không có các hướng gió chủ đạo. Đây là thời kỳ chuyển tiếp giữa các mùa gió.

6. Mưa

Tiền Giang quanh năm nhiệt độ và ánh sáng dư thừa, vì vậy mưa kết hợp với chế độ thủy văn của hệ thống sông, rạch, kinh trở thành nhân tố chính chi phối thời vụ, cơ cấu cây trồng, năng suất và chất lượng sản phẩm.

Lượng mưa năm trung bình nhiều năm vào khoảng 1.100mm đến 1.400mm và khá ổn định qua các năm. So với các khu vực ở miền Đông và miền cực Tây của đồng bằng sông Cửu Long, Tiền Giang thuộc khu vực ít mưa (nhỏ hơn 1.500mm) (Bảng 8).

Bảng 8:  Lượng mưa năm trung bình nhiều năm

Trạm Xo (mm) Cv Số năm tính toán (năm)
Mỹ Tho

Gò Công

1.379

1.175

0,19

0,28

46

38

Trong năm, lượng mưa phân bổ không đồng đều, hình thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa gắn với gió mùa tây nam, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10. Lượng mưa mùa mưa chiếm 86 đến 90% lượng mưa năm và khá ổn định qua các năm (hệ số Cv nhỏ).

Mùa khô gắn liền với mùa gió mùa đông bắc ít ẩm, bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau. Lượng mưa mùa khô chỉ chiếm từ 10 đến 14% tổng lượng mưa cả năm và có sự biến động khá lớn qua các năm (xem bảng 9).

Bảng 9: Các đặc trưng mùa mưa (mm, %)

Trạm Mưa năm Mùa mưa Mùa khô
Xo % TG Xom % Cv TG Xom % Cv
Mỹ Tho

Gò Công

1.379

1.175

100

100

5- 10

5- 10

1183

1066

86

90

0,17

0,34

11- 4

11-4

197

109

14

10

0,63

0,87

TG: Tiền Giang.

 

 Lượng mưa tập trung vào hai thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất xuất hiện vào tháng 6 hoặc tháng 7, lượng mưa tháng xấp xỉ 200mm, thời kỳ thứ hai xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10 lượng mưa tháng trên dưới 250mm. Sự tồn tại 2 đỉnh mưa này gắn liền với sự thường trực của các hệ thống gây mưa (dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới, gió mùa tây nam…).

Xen kẽ hai thời kỳ mưa nhiều là hai thời kỳ ít hoặc không mưa. Thời kỳ thứ nhất vào giữa mùa khô (từ tháng 1-3), khu vực có gió đông hoặc đông nam thịnh hành ổn định, lượng mưa tháng thời kỳ này rất nhỏ (từ 5 đến 10mm) đôi khi cả tháng không có mưa.

Bảng 10: Lượng mưa tháng trung bình nhiều năm (mm)

Tháng

Trạm

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Mỹ Tho

Gò Công

6,4

3,1

2,0

0,0

5,2

5,7

34,2

7,9

155

133

189

187

189

189

160

147

228

195

259

239

107

72,8

40,2

14,3

 

Thời kỳ ít mưa thứ hai thuộc mùa mưa, thường xuất hiện vào tháng 7 hoặc tháng 8, hiếm khi xuất hiện vào tháng 9. Lượng mưa tháng thời kỳ này trên dưới 150mm. Các đợt hạn dài ngày xảy ra vào thời kỳ này nhân dân địa phương gọi là hạn “Bà Chằn” (xem bảng 10).

 Lượng mưa phân bố khá đồng đều trên các vùng trong tỉnh. Lượng mưa năm nay thay đổi từ 1.100mm đến 1.400mm. Và chúng cũng có cùng một đặc điểm và tính chất mưa (xem bảng 11).

Bảng 11: Mưa trung bình nhiều năm trong tỉnh (1977-1987) (mm)

Trạm Xo (mm)
Vàm Kinh

Gò Công

Hòa Bình

Chợ Gạo

Mỹ Tho

Châu Thành

Cai Lậy

Cái Bè

Mỹ Phước

Hậu Mỹ Bắc

1290

1425

  1263

1202

1340

1260

1207

1380

1241

1141

Theo Niên giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Tiền Giang xuất bản năm 2002, 2003, 2004, lượng mưa trung bình hàng năm từ năm 1995 đến nay như sau:
- 1995: 1.345,8mm
- 1998: 1.371,6mm
- 1999: 1.894,4mm
- 2000: 1.640,1mm
- 2001: 1.538,3mm
- 2002: 0.759,5mm
- 2003: 1.488,8mm
- 2004: 2.349,5mm

7. Bốc hơi

Tiền Giang là nơi quanh năm nền nhiệt độ cao, nên lượng bốc thoát hơi nước lớn. Lượng bốc hơi trung bình năm 3,3mm/ngày. Lượng bốc hơi tối cao trung bình năm 5,5mm/ngày. Lượng bốc hơi tối thấp trung bình năm 1,8mm/ngày.

Độ bốc hơi nước liên quan đến nhiều yếu tố như: độ ẩm không khí, nắng, gió…Bởi vậy, mùa khô nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên độ bốc hơi mạnh. Trong năm lượng bốc thoát hơi lớn nhất thường xảy ra vào tháng 3 (4,9mm/ngày) và nhỏ nhất thường xảy ra vào tháng 10 (2,3mm/ngày). Sai biệt tối đa của lượng bốc hơi trung bình ngày giữa các tháng là 2,6mm (xem bảng 12).

Bảng 12: Bốc hơi tháng - Trạm Mỹ Tho (1979-1985) (mm/ngày)

Tháng

Đặc trưng

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 10 TB năm
TB

TB Max

TB Min

3,1

5,3

2,4

4,8

7,3

3,1

4,9

7,7

2,9

4,5

7,4

2,4

3,3

5,5

1,4

3,1

5,5

1,2

3,0

5,3

1,2

3,1

5,3

1,5

2,5

4,5

1,1

2,3

4,2

0,9

2,5

3,8

1,3

2,9

4,4

1,7

3,3

5,5

1,8

Trong sản xuất nông nghiệp, tương quan giữa lượng mưa và độ bốc hơi có ảnh hưởng lớn đến cây trồng. Như vậy, các ngành có liên quan đến sản xuất nông nghiệp phải có kế hoạch bố trí thời vụ sản xuất phù hợp và tổ chức tốt hệ thống thủy lợi. Trong mùa khô, lượng mưa quá thấp so với độ bốc hơi, cây trồng thiếu nước như ở Gò Công, Tân Phước, vùng phía Bắc Cai Lậy, Cái Bè, … Ngược lại  mùa mưa, lượng mưa lớn hơn độ bốc hơi, cùng với mùa lũ tràn về dẫn đến tình trạng thừa nước. Do đó trong cả hai trường hợp này chỉ có thể khắc phục bằng biện pháp thủy lợi cùng với hệ thống đê bao chống lũ. Có thể nói khí hậu Tiền Giang có khá nhiều thuận lợi cho sự sống của sinh vật, đặc biệt cho sự phát triển của cây trồng. Tiền Giang cũng là nơi có tần suất thiên tai thấp so với các nơi khác trong cả nước.



Số khách:

Website thông tin kinh tế xã hội tỉnh Tiền Giang - www.tiengiang.gov.vn
Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang
Giấy phép do Cục báo chí cấp số: 477/GP-BC cấp ngày 29 tháng 10 năm 2004
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Chiến - Chánh Văn phòng UBND tỉnh Tiền Giang
Ban biên tập website Tiền Giang.
Địa chỉ: Số 23 đường 30/4 - Phường 1 – Thành phố Mỹ Tho
Điện thoại: 073.3977184, Email: bbtwebsite@tiengiang.gov.vn
® Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử tỉnh Tiền Giang" hoặc "www.tiengiang.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này