Tin tức -Sự kiện 
Giới thiệu chung 
Kinh tế - Xã hội 
Xúc tiến đầu tư tỉnh Tiền Giang năm 2010 
Danh mục Dự án kêu gọi đầu tư 
Đào tạo - Bồi dưỡng 
Thủ tục hành chính 
Tổ công tác thực hiện   Đề án 30 
Văn hóa - Du lịch  
Văn nghệ 
Kỷ lục Tiền Giang 
Số liệu Thống kê 
Giá cả thị trường 
Các doanh nghiệp 

Lịch làm việc của lãnh đạo

Thư điện tử

Lịch cúp điện - nước

Dự báo Thời Tiết tỉnh Tiền Giang

Thư viện Tiền Giang giới thiệu sách mới

Công ty cổ phần ô tô Trường Hải

Thủ tục hành chính

Tiền Giang - tiềm năng và cơ hội đầu tư

Địa chí Tiền Giang

Sàn giao dịch việc làm Tiền Giang

Festival trái cây Việt Nam

Diễn đàn hợp tác kinh tế đồng bằng sông Cửu Long

Hướng về biển đảo quê hương

Danh mục mởi gọi đầu tử tỉnh Tiền Giang năm 2013

Định hướng đẩy mạnh xuất khẩu trái cây ĐBSCl




 Giới thiệu chung / Huyện Gò Công Đông

Giới thiệu

1. Tên đơn vị: Huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang

2. Vị trí địa lý:

Huyện Gò Công Đông là một trong 9 huyện, thị, thành thuộc tỉnh Tiền Giang, nằm ở tọa độ 106035’-10607’30’’ kinh độ đông và 10007’-10030’ độ vĩ bắc. Vị trí địa lý được xác định: Phía Bắc giáp tỉnh Long An, phía Nam giáp huyện Tân Phú Đông, phía Tây giáp thị xã Gò Công và huyện Gò Công Tây, phía Đông giáp biển Đông.

Huyện Gò Công Đông có 13 đơn vị hành chính vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế biển của Tỉnh và cả nước. Toàn bộ phía Đông của huyện tiếp giáp với 32km bờ biển với 02 cửa sông lớn là Cửa Tiểu và cửa Soài Rạp là các cửa ngõ thông ra biển Đông, là điều kiện thuận lợi để giao lưu với tỉnh bạn và quốc tế.

Đồng thời đây là nơi hội tụ nguồn tài nguyên thủy sản dồi dào phong phú. Bên cạnh đó, biển và bờ biển là hướng phòng thủ chiến lược trong việc bảo vệ nền kinh tế- chính trị trong khu vực. Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 26.768,16 ha, dân số 143.418 người.

Huyện Gò Công Đông có địa hình tương đối bằng phẳng, khuynh hướng thấp dần theo hướng Bắc nam và Tây Đông, đất phù sa cổ và phù sa ven biển chiếm phần lớn diện tích. Nhưng từ khi thực hiện chương trình ngọt hóa Gò Công vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước đến nay tình hình đất được cải thiện và thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi. Đặc biệt với 20km bờ biển với hàng ngàn ha bãi bồi rất thuận lợi trong việc nuôi trồng các loại thủy hải sản như nghêu, tôm, cua và các loài đặc sản biển khác. Khí hậu Gò Công Đông nằm trong chế độ khí hậu chung cả miền Tây Nam bộ, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5-11, mùa khô từ tháng 12  đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình hàng năm 27,90C, lượng mưa trung bình hàng năm 1.191mm.

Khu vực Gò Công nói chung và huyện Gò Công Đông nói riêng có lịch sử hình thành khá sớm, nơi đây trước kia là vùng rừng thiêng nước độc và là nơi đóng quân của nghĩa quân anh hùng dân tộc Trương Định trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp. Từ khi hòa bình lập lại thống nhất đất nước, đặc biệt là từ năm 1979 huyện Gò Công Đông được tách ra từ huyện Gò Công trước đây đã không ngừng phát triển trên nhiều lĩnh vực cho đến nay.

3. Tóm tắt đặc điểm kinh tế - xã hội.

Phát huy lợi thế của vùng kinh tế biển, cùng với chương trình ngọt hóa Gò Công đã khai thác tiềm năng và phát triển kinh tế, cơ cấu giá trị tính theo giá trị thực tế năm 2007. Cụ thể:

- Khu vực I (nông-lâm-ngư)                          đạt 68,8%

- Khu vực II (công ngjiệp-xây dựng)           đạt 9,5%

- Khu vực III (thương mại-dịch vụ)                 đạt 21,7%

Huyện Gò Công Đông trước đây là một vùng đất nhiễm mặn phèn lâu đời, thường xuyên nên hàng năm chỉ sản xuất được 01 vụ lúa mùa năng suất thấp, bấp bênh do đó đời sống nhân dân vô cùng khó  khăn, thiếu thốn. Sau vụ mùa nhân dân phải đi làm thuê mướn nới khác để tìm nguồn thu nhập thêm. Trước tình hình đó, được Trung ương và Tỉnh quan tâm đầu tư thực hiện dự án ngọt hóa Gò Công đã tạo sự chuyển biến tột bậc cho vùng Gò Công, trong đó có huyện Gò Công Đông.

Sản xuất nông nghiệp đã phát triển ổn định, từ sản xuất chỉ 01 vụ/năm đến năm 2002 có 13.000ha sản xuất 03 vụ lúa/năm, 3.256ha sản xuất 02 vụ/năm. Năng suất lúa bình quân 4,5 tấn/ha. Sản lượng lương thực 180.000 tấn, bình quân lương thực 960kg/đầu người. Riêng trong năm 2007, tổng sản lượng lương thực 195.931 tấn, trong đó sản lượng lúa thơm giá trị cao chiếm 60%,  sản lượng lúa chất lượng cao chiếm 30%.

Từ thực tế độc canh cây lúa dần dần chuyển sang đa dạng hóa cơ cấu cây trồng. Sản xuất hoa màu gia tăng với diện tích gieo trồng hàng năm 8.300ha. Kinh tế vườn từng bước phát triển với diện tích 2.160ha (trong đó khoảng 700ha trồng cây sơ ri).

Phong trào chăn nuôi ổn định hàng năm duy trì đàn heo 44.012 con, gần 01 triệu con gia cầm. Nuôi bò, dê đang có xu thế phát triển .

 Sản xuất ngư nghiệp đang được quan tâm đầu tư có bước phát triển khởi sắc nhất là lĩnh vực nuôi thủy sản. Đến năm 2008, huyện giữ vững diện tích nuôi thủy sản hàng năm là 3.566ha. Trong đó nuôi tôm sú vẫn giữ vai trò chủ đạo với số lượng con giống thả nuôi gần 300 triệu con đã tạo nguồn thu nhập đáng kể. Hoạt động đánh bắt hải sản giảm số phương tiện do nguồn lợi thủy sản ven bờ cạn kiệt, ngư dân thiếu vốn tích lũy để đầu tư cải tạo, đóng mới phương tiện đánh bắt xa bờ. Tổng sản lượng thủy hải sản  thu hoạch hàng năm của huyện 55.140 tấn.

Để khai thác tiềm năng ngư nghiệp huyện đang tranh thủ cấp trên đầu tư để đưa vào khai thác các vùng dự án nuôi tôm Bắc Gò Công, diện tích đất lúa ven đê năng suất thấp sang nuôi thủy sản.

Lĩnh vực công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp của Huyện còn yếu kém, quy mô sản xuất nhỏ, máy móc thiết bị lạc hậu. Sản phẩm nông nghiệp, hải sản chủ yếu bán thô chưa qua chế biến nên thu nhập còn thấp.

Hoạt động thương mại du lịch phát triển khắp đến vùng nông thôn đáp ứng lưu thông hàng hóa thông suốt, đáp ứng nhu cầu của nhân dân.

Lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn được quan tâm thực hiện. Qua việc tranh thủ các nguồn vốn đầu tư, đến nay trên địa bàn huyện cơ bản hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi nội đồng, mạng lưới đường huyện, đường xã được nhựa hóa, bêtông hóa ngày một phát triển. Toàn huyện có 7 tuyến đường huyện với tổng chiều dài 40km, đã nhựa hóa được 3 tuyến (ĐH01, ĐH02, ĐH03) với tổng chiều dài 18,479km đạt 46,19% tổng số chiều dài đường huyện hiện có.

 Toàn huyện đã xây lắp được 284 km điện trung thế, 332km điện hạ thế đáp ứng được 31.964 hộ có điện sử dụng, đạt 98,98% trong đó có 19.283 sử dụng điện kế chính chiếm tỷ lệ 57,6% góp phần đáng kể phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của hộ nông thôn. 73,5% số hộ có nước sạch sử dụng, đến tháng 6/2008 đạt 10.432 thuê bao, quản lý tốt 25 đại lý điện thoại công cộng, 03 đại lý bưu điện, 30 đại lý Internet. Mật độ điện thoại cố định bình quân đạt 7 máy/100 dân.

Với kết quả trên kinh tế xã hội huyện đã có sự chuyển biến đáng kể, tốc độ tăng GDP 9,2%. Giá trị xản xuất nông nghiệp tăng 4,5%/năm, công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp tăng 29,8%/năm, thương mại dịch vụ tăng 15,1%/năm.

4. Thông tin giới thiệu.

- Các cụm công nghiệp tại địa phương.

Đối với việc xây dựng các  Khu, cụm công nghiệp, hiện có 5 nhà đầu tư đã được tỉnh cho nghiên cứu, xây dựng dự án đầu tư ở khu vực Vàm Láng, Gia Thuận, Tân Phước cặp sông Soài Rạp gồm:

 KCN Tàu thủy Soài Rạp (180ha); KCN dịch vụ dầu khí (616ha) do tổng công ty Cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư; CCN Gia Thuận – Cảng biển Tân Phước do công ty Cổ phần An Sơn làm chủ đầu tư với diện tích 630ha; Dự án tổng kho dầu khí Soài Rạp – Tiền Giang (42ha) do công ty dầu khí Mê kông làm chủ đầu tư; Khu dân cư xã Vàm Láng phục vụ cho tái định cư các dự án công nghiệp do công ty cổ phần Đầu tư và xây dựng Tiền Giang đầu tư thực hiện 25,9ha và công ty dầu khí Mê Kông đầu tư 3,3ha.

Huyện đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư đến khảo sát nghiên cứu lập dự án đồng thời khẩn trương phối hợp thực hiện xong các công việc:

+ Tổ chức thông ra dân chủ trương của tỉnh trong việc xây dựng khu cụm công nghiệp trên địa bàn (hoàn tất 100% các dự án).

+ Hỗ trợ công tác đo đạc, lập bản đồ hiện trạng 1/2000 làm căn cứ cho kê biên định giá (hoàn tất 100%), hiện đang triển khai kê biên áp giá 2 dự án, hòan tất công tác đền bù, giải phóng mặt bằng 01 dự án.

+ Hỗ trợ hoàn chỉnh công tác quy hoạch xây dựng 2 khu tái định cư Vàm Láng làm cơ sở triển khai đầu tư. Xác định vị trí các khu tái định cư phục vụ cho các dự án khu cụm công nghiệp trên địa bàn.

 Ngoài ra, địa phương luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư (đối với các dự án vừa và nhỏ) có ý định đầu tư vào địa phương.

- Các dự án địa phương đang kêu gọi đầu tư:

Quy hoạch Khu du lịch sinh thái biển Tân Thành đã được phê duyệt, huyện đã khẩn trương thực hiện xong các bước: Công khai hóa quy hoạch, hoàn chỉnh đo đạt lập bản đồ hiện trạng, lập phương án tổng thể đề bù giải phóng mặt bằng, kê biên áp giá thông ra dân lần 2. Song song kêu gọi và làm việc với các nhà đầu tư đăng ký dự án để tổ chức triển khai.

 

* Các cơ quan, đơn vị



Số khách:

Website thông tin kinh tế xã hội tỉnh Tiền Giang - www.tiengiang.gov.vn
Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang
Giấy phép do Cục báo chí cấp số: 477/GP-BC cấp ngày 29 tháng 10 năm 2004
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Chiến - Chánh Văn phòng UBND tỉnh Tiền Giang
Ban biên tập website Tiền Giang.
Địa chỉ: Số 23 đường 30/4 - Phường 1 – Thành phố Mỹ Tho
Điện thoại: 073.3977184, Email: bbtwebsite@tiengiang.gov.vn
® Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử tỉnh Tiền Giang" hoặc "www.tiengiang.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này