Tin tức -Sự kiện 
Giới thiệu chung 
Kinh tế - Xã hội 
Xúc tiến đầu tư tỉnh Tiền Giang năm 2010 
Danh mục Dự án kêu gọi đầu tư 
Đào tạo - Bồi dưỡng 
Thủ tục hành chính 
Tổ công tác thực hiện   Đề án 30 
Văn hóa - Du lịch  
Văn nghệ 
Kỷ lục Tiền Giang 
Số liệu Thống kê 
Giá cả thị trường 
Các doanh nghiệp 

Lịch làm việc của lãnh đạo

Thư điện tử

Lịch cúp điện - nước

Dự báo Thời Tiết tỉnh Tiền Giang

Thư viện Tiền Giang giới thiệu sách mới

Công ty cổ phần ô tô Trường Hải

Thủ tục hành chính

Tiền Giang - tiềm năng và cơ hội đầu tư

Địa chí Tiền Giang

Sàn giao dịch việc làm Tiền Giang

Festival trái cây Việt Nam

Diễn đàn hợp tác kinh tế đồng bằng sông Cửu Long

Hướng về biển đảo quê hương

Danh mục mởi gọi đầu tử tỉnh Tiền Giang năm 2013

Định hướng đẩy mạnh xuất khẩu trái cây ĐBSCl




 Địa chí Tiền Giang / Địa lý tư nhiên

Chương hai: Địa lý tự nhiên

VI. THỰC VẬT

Khí hậu vùng Tiền Giang mang tính chất gió mùa cận xích đạo. Các yếu tố khi hậu gồm: độ ẩm không khí, nắng, bức xạ, nhiệt độ, mưa...được phân bố theo mùa trong năm khá rõ nét. Qui luật phân bố này khá ổn định qua nhiều năm và ít thay đổi trong không gian. Cùng với đặc điểm địa chất, địa hình, đây là một trong những điều kiện để thảm thực vật phát triển phong phú, đan xen, cho nên sự phân bố thảm, vùng không có tính khu biệt. Tuy nhiên, có thể tạm chia thành các quần thể thực vật sau:

a. Quần thể thực vật ven biển, ven sông rạch

Trước hết là quần thể thực vật phía đông của tỉnh, ven biển vùng Gò Công. Chủng loài thực vật ở đây tương đối đơn điệu, nếu càng đi về phía biển, và phong phú hơn khi đi sâu vào đất liền. Vào thời khẩn hoang, có một số họ thuộc nhóm cây lấy gỗ mọc thành rừng như cây dà – họ liễu (Salicaceae), khả năng tái sinh mạnh, gỗ nhẹ, chỉ dùng làm củi, trồng bảo vệ đất rất tốt. Cây họ trám (Burseraceae); cây cóc cũng mọc thành rừng, hiện nay còn địa danh Truông Cóc. Trước kia, người ta lột vỏ cây cóc phơi khô bán cho người Hoa làm thuốc nhuộm. Cây tra bông đỏ (Kleinhovia hospita), họ trôm (Sterculiaceae), gỗ dùng làm cán dao, vỏ dùng làm dây buộc, lá sắc gội đầu chống chí (chấy), chữa ghẻ chốc. Đáng kể nhất là cây dừa nước (Nipa fructicans), họ dừa, mọc nơi đất trũng, ven biển, các cửa sông, xen lẫn với các loại cây nhỏ thuộc họ ô rô, mọc thành rừng rậm. Cây lức (Pluchea indica) thuộc họ cúc (Asteraceae) cũng mọc hoang ở ven biển và được nhiều người trồng để làm hàng rào cây xanh và dược liệu. Họ bìm bìm (Convolvulaceae) có cây muống biển (Impomaea pes-caprae), có hoa lớn hình loa kèn, màu hồng tím khá đẹp.

Ven biển Gò Công còn có các loại cây họ đước vẹt (Rhizophorzceae), gồm có cây Vẹt (Bruguiera parviflora), đước xanh (Rhizophora mucronata); họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae) có cây mắm, nhưng số lượng ít hơn... Đi sâu vào đất liền, hai bên cửa sông nước lợ, có cây chà là (Phoenix paludosa) thuộc họ dừa mọc thành rừng đan xen với cây cóc. Vào quá bên trong, ở gần các cửa sông, có các loại bần nước lợ như bần ổi (Sonneratia alba), bần đắng (Sonneratia griffithii). Bần chua ít hơn, đồng thời còn tìm thấy những cây thuộc họ cói (Cyberaceae) như cây lác, cây ô rô nước mặn mọc xen lẫn bên dưới những rặng bần, dừa nước.

Đi sâu vào đất liền còn có cây đại (Plumeria acutifolia) còn gọi là bông sứ, sứ cùi thuộc họ trúc đào, với nhiều loại bông đỏ, bông trắng...được trồng làm cảnh. Đây là loại cây di thực từ đất Lào, còn có tên là Chămpa. Cây su (Carapa obovata), họ xoan, gỗ mịn có vân đẹp. Cây xương cá (Carapa moluccensis), cùng họ, hiện nay số lượng còn lại rất ít.

Ở ven sông rạch vùng nước ngọt sông Tiền, các nhóm thảo mộc thường thấy thuộc họ ráy (Araceae) như cây móp, mọc ở bãi lầy, người ta thường lấy củ làm thuốc. Cây bồ bồ hay xương bồ, cùng họ mọc nhiều ở bãi lầy ven sông, rạch. Người ta thường trồng cây này để làm thuốc, rễ và thân cây có mùi thơm nồng. Cây nghể (Polygonum hydropiper - còn gọi thủy liễu) thuộc họ rau răm (Polygonaceae) mọc hoang nơi mé sông, cũng dùng để làm thuốc, làm thức uống giải nhiệt. Cây rau răm rừng cùng họ xưa mọc nhiều ở rạch Rau Răm, huyện Châu Thành. Họ ráy còn có cây môn nước, môn ngọt và có cây môn đốm, cây môn trường sinh... có nguồn gốc từ Nam Mỹ di thực sang, trồng làm cảnh. Cây dứa gai (Pandanus tectorius), có thể lấy sợi từ lá, đọt non và rễ dùng làm thuốc. Cây rau dừa nước (còn gọi là thuỷ long), họ rau dừa nước (Oenotheraceae) mọc nổi trên mặt nước nhờ có những chiếc phao quanh thân, người ta hái làm rau ăn hoặc làm thức ăn cho lợn; loại rau dừa nước thân nhỏ, màu tím dùng làm rau ăn được. Bèo cái (Pistia stratoites), cây rau chóc (Laisia spinosa ) cùng họ. Bèo cám (Họ bèo tấm –Lemnaceae), bèo hoa dâu (họ bèo dâu – Azollaeae). Cây ô rô ba lá, họ ô rô (Acanthaceae) mọc hoang nơi bãi lầy cũng được khai thác làm thuốc. Cây ngãi (huệ nước), họ layơn (Iridaceae) mọc ven sông khá nhiều với loại có hoa đỏ, hoa vàng, al2 loại cây bản địa, trồng làm cảnh. Cây Cám, loại dây leo, trái tròn cỡ trái cam, hạt nhỏ, mọc hoang ở bãi bồi ven sông. Họ nê thảo (Butomaceae), cây kèo nèo (Limmocharis flava), mọc ven bờ nước, làm rau ăn...Cùng chủng loại có cây rau tai tượng được trồng quanh bờ ao làm rau ăn. Họ Cói (Cyperraceae) có cây Thủy trúc hay gọi là lác dù, ô du. Họ Lục bình (Pontederriaceae), cây lục bình hay bèo Nhật Bản, có nguồn gốc Châu Mỹ nhiệt đới; ban đầu trồng làm cảnh, sau đó lan tràn khắp sông rạch, sống được cả vùng nước lợ. Cây rau mác lá tròn, cùng họ, cũng mọc hoang ở bãi bùn ngập nước, có thể làm rau ăn được. Rau mác lá hình lưỡi mác mọc ở đồng ruộng nhiều hơn. Rau nhút, họ trinh nữ (Mimosaceae) (hay còn gọi rau thuần) được trồng nhiều ở ao đìa vùng đất ven sông rạch, nhiều phù sa.

Đại diện cho nhóm cây lấy gỗ mọc ven sông là cây bần (Sonneratia caseolaris), với ba loại phổ biến tìm thấy là bần ổi, bần sẻ và bần chua. Bần ven sông Tiền gỗ xấu, vỏ chứa nhiều ta-nanh. Quả bần chua để ăn và nấu canh chua. Hoa Bần có nhiều mật có thể tận dụng nuôi ong. Ngoài ra người ta dùng rễ phụ mọc quanh thân của nó để làm nút chai. Bên cạnh có cây vừng bông đỏ, vừng bông trắng cũng mọc ở ven sông. Cây quao (Stereospermum annamense ) còn gọi quao xanh, họ đinh (Bignoniaceae), cho gỗ nhẹ dùng đóng đồ đạc, không bị mối mọt.

b. Quần thể thực vật vùng phù sa cổ, đất giồng

Đặc điểm địa chất của vùng đất này là đất cát và đất pha cát, độ màu mỡ ít, ở cao và thường khô hanh vào mùa nắng, thích hợp các loại cây:

 - Họ sao, dầu ( Dipterocarpaceae) là nhóm cây bản địa phổ biến nhất, tìm thấy nhiều nơi trên các giồng đất cao. Phổ biến là loại Hopea odorata cho gỗ rất tốt dùng để đóng ghe thuyền. Hiện nay, các loại sao, dầu chỉ còn lại rất thưa thớt ở các khuôn viên đình, chùa. Cây nhạc ngựa (dái ngựa) mới di thực vào khoảng đầu thế kỷ XX, được trồng lấy bóng mát ven đường.

 - Họ bàng (Combretaceae) có cây trâm bầu (Commbretum quadrangulare Kurz), mọc ở dãy đất cao, hiện ở Gò Công còn địa danh Gò Bầu. Cây bàng (Terminalia catappa) di thực vào vùng này rất sớm, thường được trồng làm bóng mát, thích hợp nhiều vùng đất. Ở đất nhiễm mặn vùng Gò Công có cây bàng biển cùng loại.

 - Họ hàng nhà tre có nhiều chủng loại gồm tre đắng, tre hóp (Bambusa muiplex) , tre gai và các loại trúc. Xưa có loại tre bông được trồng nhiều để bán làm nan quạt, mỹ nghệ. Tầm vông có hai loại phổ biến: tầm vông cơm và tầm vông đá. Cây tầm vông vùng nầy xưa được triều đình nhà Nguyễn khai thác làm cán giáo. Ngoài ra cũng có tre ngà và các loại tre lấy măng mới nhập như tre Mạnh tông, tre Tàu...

 - Họ trinh nữ (Mimosaceae) có cây me keo (Pithecolobium dulce) cho gỗ lớn, có thể đóng đồ đạc làm nhà, lá cây trị bệnh, quả ăn được. Cây lồng mức mọc nhiều ở vùng đất giồng Nhị Bình, gỗ nhẹ, dai, người ta lấy gỗ để đóng guốc hay khắc gỗ làm mộc bản in. Keo bông vàng (Acacia aneuramuell), gỗ lớn, màu vàng, dùng đóng đồ đạc, làm thùng xe, đóng hòm... Cây mắc cỡ (xấu hổ) khi đụng vào, lá của nó tự khép lại, cây thân thảo mọc hoang vùng đất cát giồng, thường được thu hái để làm thuốc.

 - Họ đậu (Fabaceae) có các loại thân gỗ như cây me (Tamarindus indicus), sống lâu năm thường được trồng ven đường làm bóng mát, trái của nó để nấu canh chua, làm mứt, kẹo me...Cây so đũa (Sesbaria grandiflora) thích hợp đất thịt pha cát, có hoa màu trắng nấu canh ăn rất ngon. Người ta cũng dùng thân để cấy nấm mèo (mộc nhĩ), làm củi đốt, lá dùng để nuôi dê...Cây vông nem (Erythrina variegata), được trồng để lấy lá gói nem, hoặc dùng làm trụ (nọc) để trồng trầu, hồ tiêu. Gần đây người ta trồng thanh long cũng hay sử dụng cây này làm trụ. Có tài liệu xếp loại cây này vào họ cánh bướm (Paphillionaceae). Nó cũng thích hợp cả vùng đất nhiễm mặn ven biển Gò Công. Họ cánh bướm còn có cây củ sắn (củ đậu) được trồng lấy củ ăn, hạt có độc tính rất cao. Cây cam thảo dây, cùng họ, mọc hoang, thường được dùng làm thuốc. Cây chim chim mọc hoang và cũng được trồng làm hàng rào... Họ cánh bướm còn có dây thuốc cá (Derris elliptica), mọc hoang và được trồng để đánh bả cá. Cây có độc tính cao đối với côn trùng và động vật máu lạnh, không độc với người và súc vật.

 - Họ thầu dầu (Eupborbiaceae) đại diện là cây bả đậu (Huara crepitans), có nguồn gốc Nam Mỹ di thực vào, thường được trồng để lấy bóng mát, lấy hạt ép dầu. Cây đu đủ tía, mọc hoang và cũng được trồng để lấy hạt ép dầu. Cây xương rồng có nhiều loại, như long trụ hay thạch trụ thiên, cây vợt gai hay xương rồng dẹt...thường được trồng làm hàng rào, làm cảnh. Dân gian dùng nhựa của một vài loại xương rồng làm thuốc chữa đau răng.

 - Họ trúc đào (Apocyraceae) có cây dừa cạn, còn gọi rau dừa cạn, loại cây di thực, được trồng làm cảnh. Gần đây, giới Đông y sử dụng làm thuốc hạ huyết áp. Cây trúc đào, vốn là cây ở miền Địa Trung Hải di thực vào nước ta. Nó được trồng làm cảnh vì có hoa rất đẹp, nhưng có độc tính rất cao. Ở Pháp người ta dùng bột gỗ trúc đào làm bả chuột.

 - Họ cỏ roi ngựa (Verberaceae) có cây trâm ổi, còn gọi là trâm hôi có nguồn gốc từ Trung Mỹ di thực vào. Cây mọc hoang, được trồng làm cảnh và làm thuốc. Cây bình linh (Vitex pubescens) cùng họ, gỗ nặng màu nâu rất chắc.

 - Họ xoan (Meliaceae) có cây ngâu, được trồng để lấy hoa ướp trà và làm cảnh. 

 - Họ nhài (Oleaceae) có cây hoa lài, hoa rất thơm, cũng được trồng để lấy hoa ướp trà.

 - Họ lúa (Graminneae) có cỏ chỉ, hay còn gọi cỏ gà, mọc hoang, thân rễ được phơi khô làm thuốc. Cỏ tranh (bạch mao) sống rất dai, thân làm tấm lợp nhà, rễ dùng để làm thuốc. Rễ tranh còn là thức uống giải nhiệt. Cây cỏ mần trầu (ngưu cân thảo) hay mọc hoang ở vệ đường cũng được dùng làm thuốc. Cây lau, cây đế, cỏ bông lau (họ cỏ: Poaceae), mọc nơi đất giồng xấu.

 - Họ vừng (Pedaliaceae) có cây mè với hai loại mè đen (hồ ma – Semen Sari) và mè trắng, được trồng nhiều ở đất cát pha, ruộng cao để lấy hạt làm gia vị, ép dầu.

- Họ cườm rụng (Ehretiaceae), cây bùm xụm, hay cùm rụm, thân gỗ, lá xanh bóng, được trồng làm cảnh.

 - Họ dâu tằm (Moraceae), cây đuối nhám, cây duối ô rô ( gốc từ núi đem xuống). Mọc hoang, sau này được trồng làm cảnh. Cây da (Ficus elastaca) có một vài chủng loại lá ngắn, tròn, lá xanh đậm có chút viền vàng, trồng ở các đình, chùa, miếu hay mọc ở gò hoang. Cây bồ đề (Ficus religiosa) có nguồn gốc từ Ấn Độ. Tương tự có các loại: lâm vồ, sanh, si, sộp….

- Họ thị (Ebenaceae), cây thị (Diospyros decandra), trước đây trồng nhiều trên đất giồng, quả có mùi thơm, hiện ít thấy.

Quần thể thực vật vùng phù sa trẻ ven sông với đất phì nhiêu, nước ngọt quanh năm, hầu hết diện tích đã sử dụng trồng lúa và lập vườn cây ăn trái. Quần thể thực vật ở đây rất phong phú, thích hợp nhiều loại thảo mộc. Tuy nhiên, cũng có một số loại gần như đã tuyệt chủng.

 - Họ cau dừa ( Arecaceae) đại diện là cây cau và cây dừa. Cây cau (Areca catechu), ngoài loại cau lấy trái ăn, còn có các loại cây cau làm cảnh như cau bụi có nguồn gốc từ Australia, hay cây cau Úc cũng có nguồn gốc như trên, cây cau chuột, vốn là cây cau rừng đem về làm cảnh. Họ nầy có các loại cọ nhưng không nhiều, chủ yếu trồng làm cảnh, như cây kè quạt… Cây đủng đỉnh (Caryota mitis) cũng họ cau, thường dùng bông và lá để làm cổng chào, nên có nơi gọi là cây cổng chào. Cây lá buông (kè buông) cũng tìm thấy một vài nơi, do người ta trồng lấy lá chằm nón, cây nhum (Oncosperma.tigillaria) mọc hoang, gần như tuyệt chủng.

Cây cau được trồng khá nhiều trong cuối thế kỷ XIX: Giống cau được trồng có hai loại: cau ớt là loại cau nhỏ cây, nhỏ trái và cau Xiêm, loại cây lớn, trái lớn, được xếp vào loại cau ngon. Dừa cũng rất nhiều giống, theo thống kê năm 1936, chỉ riêng tỉnh Mỹ Tho đã có 7.268 ha trồng dừa, với sản lượng thu hoạch 15.345 tấn.

 - Họ trôm (Sterculiaceae) có cây cui (Heritiera macrophylla) hiện đã tuyệt chủng, cây cho gỗ nhỏ, không thẳng. Cây Trôm, còn gọi tham rôn (Sterculia cochinchinensis, cho gỗ nhẹ màu trắng, đóng ghe thuyền nhỏ. Cây có quả, hạt quả có vị béo; nhựa ăn được. Gần gũi với cây trôm có cây gòn (Bombax anceps), thuộc họ gạo (Bombacaceae). Vùng Tiền Giang thấy có hai loại gòn thân có gai và không gai; gỗ nhẹ, xấu, chỉ trồng lấy sợi bông trong quả để nhồi gối đệm. Cây ngô đồng trước đây có nhiều, hiện ít thấy.

 - Họ Cà phê (Rubiaceae) có cây cà giâm (Mitragyne diversifolia), gỗ nhỏ có màu nâu, thớ mịn, có thể đóng đồ đạc và làm nhà, cây này hiện nay ít tìm thấy. Cây nhàu (Morida citrifolia), mọc hoang nơi đất ẩm, quả hình trứng, ruột có lớp cơm mềm ăn được, mùi nồng cay, thường dùng rễ làm thuốc. Họ cà phê còn có cây dành dành và cây mẫu đơn được trồng làm cảnh. Trái dành dành được các bà nội trợ dùng để lấy màu thực phẩm. Hạt danh danh gọi là chi tử, dùng làm thuộc. Cây bông trang, cùng họ, có nhiều loại: trang trắng (Ixora finlaysonianal), trang đỏ (Ixona macrothyrsa), trang vàng (Ixona lutea). Cây rau mơ, dân gian gọi là lá thúi địt (Paederia foetida) mọc hoang ở các vườn rậm, lá làm hương liệu.

- Họ sim (Myrtaceae) có cây ổi rừng với một vài chủng loại đã mất.

- Họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae), có cây cách, hay cây lá cách (Premna integrifolia), cây gỗ, nhỏ, cho lá ăn được và dùng làm thuốc.

- Họ long não (Lauraceae) cây bời lời (Litsea vang) cho gỗ và làm thuốc.

- Họ tử vi (Lythraceae), cây bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa), lấy gỗ làm nhà, đồ mộc gia dụng, có hoa tím rất đẹp. Cây sơn trắng, cây sơn máu, thuộc họ sao dầu, cũng cho gỗ, trước đây có nhiều, hiện do cải tạo vườn tạp trồng cây ăn quả nên ít thấy. Cây trâm với vài loại trâm rối, trâm nút áo, cây trâm sắn cho vỏ làm thuốc nhuộm. Trái các loại cây trâm, sắn ăn được.

 - Họ măng cụt, có cây bứa (Gracinia obongfolia) trái chín màu vàng rất tươi, vị chua, ăn được, có khi dùng để nấu canh chua. Cây măng cụt mới nhập nội sau này cũng được trồng nhiều ở các khu vườn cao, ít ngập nước. Cây mù u (Calophyllum inophyllum.) cùng họ, mọc hoang và người xưa thường ép trái lấy dầu thắ sáng hoặc làm thuốc. Gỗ mù u cũng khá tốt dùng để đóng nông cụ.

+ Họ vang (Caesalpiniaceae), cây điệp ta, được trồng làm cảnh, hoa đẹp, có hai chủng hoa vàng và đỏ. Cây ô môi (Cassia grandis) có hoa đẹp, quả ăn được, gỗ tốt. Cùng họ, cây phượng vĩ (Delonix regia) có nguồn gốc từ Madagasca di thực vào Nam bộ, trồng nhiều ở ven đường các thành phố, thị trấn, sân trường; hoa đỏ nở vào mùa hè, trở thành biểu tượng của học trò. Cây muồng trâu (Cassia alata), cùng họ, mọc hoang dại, dùng làm thuốc chữa hắc lào, thuốc xổ.

- Họ lão mai (Ochnaceae), cây mai vàng (Ochna integerrima), cây gỗ, hoa rất đẹp, nở trong dịp Tết, được ưa chuộng trồng làm cảnh. Cây mai tứ quí cùng họ, lá có mép răng cưa, hoa vàng, đài hoa màu đỏ thắm, trồng làm cảnh.

- Họ bồ hòn (Sapindaceae), cây chôm chôm rừng (Nephelium bassacense) có quả vị chua, áo hạt mỏng dính với hạt, hiện gần như đã tuyệt chủng.

- Họ trinh nữ (Mimosaceae), cây còng (muồng ngủ - Mimosa saman) có nguồn gốc Trung Mỹ, còn gọi là me tây, di thực vào Nam bộ khoảng cuối thế kỷ XIX, được trồng lấy bóng mát,.

- Họ đào lộn hột (Anacardiaceae), cây xoài mút hay muỗm, có nơi gọi cây quéo, một giống xoài rừng, hiện còn rất ít.

 - Họ chuối (Musaceae), cây chuối tập hợp khá nhiều giống. Một số giống chuối rừng tồn tại khá lâu như chuối lá ta, chuối hột…xen lẫn với các loại chuối tiêu, chuối lá hương, chuối cơm ngọt, cơm chua, chuối ngự, chuối tá họa, chuối cau trắng, cau mẳn, cau xanh và một số loại chuối được nhập sau này như chuối già, chuối Xiêm…

- Họ thài lài (Commelinaceae) có cây rau trai, mọc nhiều nơi ẩm thấp, có thể luộc ăn được và dùng làm thuốc giải nhiệt.

- Họ ngũ gia bì (Arliaceae), cây đinh lăng gỏi cá (Aralia filicifolia) có nguồn gốc các đảo Thái Bình Dương và các loại đinh lăng lá lớn, lá quạt...trồng làm cảnh.

- Họ hoa hồng (Rosaceae), gồm hoa hồng nguyên thủy có hai loại: hoa hồng màu đỏ sậm, ít hoa (Crimson chinese rose) hoa hồng đỏ (the Fairy rose), còn gọi hoa tỉ muội và giống hoa màu tím đậm (Rosa chinensis). Cây tầm xuân (Rosa multiflora) trồng làm cảnh, có hoa màu xanh biếc rất đẹp.

- Họ ô rô, (Acacthaceae), cây kiến cò (bạch hạc) (Rhinacanthus nasutus) trồng làm thuốc, đôi khi mọc hoang. Cây nổ (Ruellia tuberosa), cùng họ, mọc hoang dại cho hoa đẹp, quả khi ướt nổ bung ra, hạt và củ dùng làm thuốc. Cây choại, một loại dây leo mọc nhiều ở vườn hoang, nơi ẩm thấp, đọt có vị chua chát, làm rau ăn được.

- Họ trúc đào, cây mai chiếu thuỷ (Wrightia religiosa) cây bản địa của các nước vùng bán đảo Đông Dương, ở Tiền Giang người ta trồng nhiều, uốn sửa làm cây kiểng.

- Họ cam (Rutacaceae), cây nguyệt quới (Murraya paniculata), trồng làm cảnh, hoa rất thơm, có thể dùng để ướp trà. Cây kim quít (Lemon china), gọi quít Tàu, trồng làm cảnh. Cây cần thăng (Liminia acidissima) gốc Ấn Độ, Srilanca, di thực vào những năm 1950, trồng làm cảnh.

- Họ dâu tằm (Moraceae), cây sanh (Ficus retusa), cây gừa (Ficus microcarpa), cây sộp (Ficus pisocarpa), cây lâm vồ (Ficus rumphii), cây sung (Ficus racemosa) với một vài loại gồm sung vè, sung nòi... Sau có thêm gừa Tàu, cây si đốm...cùng họ. Họ nầy còn cây sakê, hay gọi cây bánh mì, trồng làm bóng mát, lấy quả ăn. Cây lá lụa hay còn gọi là đọt mọt, dùng để ăn lá...

- Họ chua me đất, cây khế (Averrhoa carambola), trồng lấy quả, có hai loại khế ngọt và khế chua, sau có thêm khế Tàu trồng làm cảnh. Cây me đất, mọc hoang, trồng trong các chậu cảnh, lá và rễ làm thuốc trị viêm họng.

- Họ đinh (Bignoniaceae), cây bồng Tây hay cây đào tiên (Crescentia cujeta) nguồn gốc Châu Mỹ, được trồng chủ yếu để làm cảnh, có quả đẹp.

- Họ na (Annonaceae), cây mãng cầu dai được trồng lấy quả ở đất cát giồng, nhiễm mặn vùng Gò Công.

- Họ hồng xiêm (Sapotaceae), cây lê ki ma, dân gian còn gọi cây trứng gà, di thực từ Nam Mỹ sang, trước đây được trồng nhiều để lấy quả ăn; do giá trị kinh tế thấp, hiện nay loại cây này nhà vườn ít trồng.

 - Họ lạc tiên (Passifloraceae), cây nhãn lồng (Passiflora foetia) mọc hoang, người ta thường hái đọt luộc ăn, trái ăn được. Năm 1940, cây này được ngành Đông y đem sử dụng làm thuốc an thần. Cây cát lồi, họ mía dò (Costaceae), mọc hoang, thường dùng làm thuốc, đọt có thể ăn được.

- Họ thầu dầu, có cây tầm duột (Phyllanthus distichus) trồng ăn quả, rễ có chất độc. Cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinera) loại cỏ dùng để làm thuốc.

- Họ hồ tiêu (Piper lolot) cây lá lốt mọc hoang nơi đất ẩm, dùng làm gia vị và làm thuốc. Bên cạnh có các loại trầu ăn lá gồm trầu xà lẹt, lá dày, xanh, rất cay, trầu Sóc Vinh lá dày, xanh đen, trầu vàng, trầu bay lá mỏng, vàng, mùi thơm nồng. Xã An Hòa, Gò Công có vùng trồng trầu vàng nổi tiếng thơm cay. Cây rau càng cua, còn gọi rau tiêu mọc nhiều nơi vườn ẩm thấp, dùng làm rau ăn.

- Họ rau dền (Amaranthaceae) gồm có rau dệu tía, rau dệu trắng, rau dền với hai loại dền gai và dền cơm. Cũng có loại rau dệu làm cảnh có nguồn gốc từ Brazil di thực vào. Cây nở ngày (hay bách nhật) dễ trồng, có hoa đẹp màu trắng, tím; cây mồng gà (Celosia cristata) với các chủng mồng gà lưỡi búa, cụm hoa lớn xoắn lại thành hình cầu đỏ thắm, loại mộc bút với nhiều màu sắc, hoa thuôn dài.

- Họ rau sam ( Portulacaceae), cây mười giờ, có nguồn gốc từ Brazil, có chủng màu trắng, màu vàng cam tươi, màu tím, màu đỏ...trồng làm cảnh.

- Họ bồng bồng (Dracaenaceae) có cây phất chủ (Dracaena dermensis) nguồn gốc từ Châu Phi nhiệt đới, cây phát tài mới di thực sau này. Cây lưỡi cọp xanh, cũng thuộc họ bồng bồng (Dracaecaceae) lá có mép vàng, trồng làm cảnh.

- Họ mồng tơi (Basellaceae), cây mồng tơi với hai loại lá trắng to và lá tím nhỏ, dùng làm rau ăn, thường hay được trồng ở bờ giậu.

- Họ bóng nước (Balsaminaceae), cây móng tay trồng làm cảnh với nhiều chủng loại: hoa lớn có cựa ngắn, hoa nhỏ có cựa dài, thon mảnh, nhiều màu sắc, hoa có cánh kép màu hồng.

- Họ bông (Malvaceae), cây đậu ma, hay tiểu đình hồng, hoa vàng, trắng, trái hình quả khế), mọc hoang dại; cùng họ có cây đậu bắp, trồng lấy trái ăn. Cây bông bụp (Hibiscus rosa –sinensis) cùng họ với các chủng loại có hoa kép, hoa đơn, bụp rìa hay còn gọi râm bụt sẻ. Cây cối xay (kim hoa thảo) cùng họ, mọc hoang và dùng để làm thuốc.

- Họ cúc (Asteraceae): cây sao nháy, cây cúc trắng, cây cúc vàng, kim cúc, cây cúc vạn thọ, cây đồng tiền, cây hướng dương (cúc quì)... trồng nhiều lấy hoa, làm cảnh. Cây cúc áo (Spilantes acmella), mọc hoang, hoa rất cay, tê nóng, dân gian dùng để trị nhức răng. Cây cỏ mực (Ecipta alba hassk) Đông y gọi là hạn liên thảo, mọc hoang, dùng làm thuốc cầm máu. Cây ké đầu ngựa quả có gai, trẻ con hay nghịch bỏ vào tóc rất khó gỡ ra. Quả ké còn dùng để làm thuốc. Cây rau ngỗ, còn gọi là cúc nước, dùng làm rau ăn. Cây rau tàu bay cùng họ, mọc hoang, lá có mùi thơm dùng làm rau ăn. Cây thuốc cứu, hay ngải cứu (Artemisia vulgaris) được trồng làm thuốc.

- Họ hoa giấy (Nyctaginaceae): Cây biện lý (Bungainvillea élégant còn gọi là cây vạn huê lầu), với nhiều giống hoa hồng tím. Về sau có nhiều giống hoa giấy mới nhập nhiều màu sắc.

- Họ hoa tán (Umbelliferae), cây rau má, còn gọi tích huyết thảo, với nhiều loại ráu má lá lớn, rau má mỡ... Cây rau cần tây cùng họ, mới nhập sau nầy dùng làm rau gia vị. Cây bản địa có cây rau cần nước cũng dùng làm rau ăn. Cây rau mùi nhập nội từ Trung Quốc còn gọi là mùi Tàu; Cây ngò gai cùng họ, gọi là ngò Tây.

- Họ lô hội (Asphodelaceae) có cây lô hội (nha đam, lưỡi cọp), trồng làm cảnh với nhiều loại như mỏ két, nha đam vằn, Lưỡi cọp vằn. Người ta trồng lô hội lấy nhựa làm thuốc, ăn mát.

- Họ gừng (Zingiberaceae), cây cát lồi (Costus speciosus), mọc vườn hoang ẩm ướt, đọt lá ăn được vị chua, chát. Nhóm họ gừng còn có nhiều chủng gồm cây riềng (Alpinia offcinarum), nghệ (Curcuma longa), gừng gió (Zingiber officinale)... dùng làm gia vị.

- Họ hành tỏi (Lidiaceae), cây hành ( Allium fistulosum) thời trước mọc hoang, sau được trồng nhiều để làm gia vị. Cây hẹ, cây tỏi cũng được trồng nhiều ở đất rẫy vùng Tân Hiệp, Châu Thành.

- Họ cà (Solanaceae), đại diện là cây cà độc dược, mọc hoang, ở các vườn thuốc Nam thường hay trồng dùng để chữa bệnh hen suyễn. Cà dái dê hay còn gọi cà tím (Solanum melongeana) được trồng nhiều lấy quả ăn. Cà chua (Tomate) cây nhập nội có nguồn gôc Châu Mỹ... Họ cà còn có các loại ớt (Capsium annucum) như ớt hiểm rừng, ớt sừng trâu, ớt bún...

- Họ cói, cây cỏ cú (Cyoerrus rotundus, còn gọi hương phụ) mọc hoang và được trồng làm thuốc. Cây cỏ bạc đầu (Kyllinga monocephala) cũng mọc hoang và được hái cả cây và rễ để làm thuốc.

- Họ bầu bí (Cucurbitaceae), cây mướp (Luffa cylindrica) với các chủng mướp hương, mướp đắng hay khổ qua (Momordica charantia) và nhiều chủng loại bầu bí khác như bí rợ (Cucurbita moschataduch), bí đao...

- Họ vòi voi (Borragnaceae), cây vòi voi (Aellotropium indicum), còn gọi dền voi, có hoa màu trắng, cong như chiếc vòi voi, mọc hoang, dân gian dùng làm rau ăn và làm thuốc.

- Họ lá vấp (Saururaceae), cây rau vấp cá (Houttuynia cordata) được trồng nhiều, dùng làm rau ăn. Họ Chữ thập (Curciferae) có nhiều loại cải canh và cải củ trắng, cây cải trời là một loại cải rừng, mọc hoang, lá có mùi hôi, cũng dùng làm rau ăn.

- Họ hoa môi (Labiatae), tập trung nhiều các loại cây rau gia vị như húng cây (Mertha arvensis), húng láng, hùng lủi, bạc hà, húng chanh (tần dày lá), cây kinh giới, tía tô, cây hột é...

Quần thể thực vật vùng ven Đồng Tháp Mười. Đồng Tháp Mười là khu vực đất xấu, nhiễm phèn, bị ngập nước nhiều tháng trong năm, đồng thời chịu ảnh hưởng lũ lụt. Quần thể thực vật tương đối đơn điệu với một vài họ và chủng loại đại diện gồm:

- Họ sim (Myrtaceae): cây tràm (Melaleuca lencadendron), sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức ghi là bách bì mộc. Cây đại diện cho thực vật vùng Đồng Tháp Mười, mọc thành rừng, người ta khai thác lấy gỗ, lấy tinh dầu ở một vài chủng loại. Cây bạch đàn cùng họ, là loại cây di thực, gồm các chủng bạch đàn trắng (Eucalyptus rostrata), bạch đàn lá nhỏ (E.Umbellata), chủ yếu lấy gỗ và bạch đàn chanh dùng để lấy tinh dầu. Cây mua hoa tím cũng mọc nhiều ở các gò trong vùng này.

 - Cây cà na (Canarium subulatum guill), thuộc họ trám (Burseraceae), gỗ có thể sử dụng đóng đồ đạc, trái có vị chua và chát, mọc nhiều ở ven rạch vùng Đồng Tháp Mười. Cây chòi mòi (antidesna Yunnanense pax et hoffm), thuộc họ thầu dầu (euphorbiaceae) mọc nhiều ở các gò cao trong Đồng Tháp Mười, cho gỗ nhỏ làm cột lán trại, làm nhà nhỏ. Cây trâm bầu, cây ô môi cũng mọc nhiều ở vùng đất này, ở những gò đất cao. Cây gáo, thuộc họ cà phê (Rubiaceae) cũng thích hợp vùng đất nhiễm phèn, cho gỗ màu vàng, có mùi thơm. Cây đào lộn hột (điều - Anacardium occidentale) họ đào lộn hột (Anacardiaceae), gỗ nâu đỏ cứng cong queo, dùng để làm nhà, hầm than. Quả chứa nhiều nước và đường, vitamin C. Hạt chứa nhiều dầu, tinh bột, thơm ngon, làm kẹo, có giá trị xuất khẩu; sau năm 1975, được trồng nhiều ở đất xấu. Họ na (Annonaceae), cây bình bát mọc hoang, trái chín có màu vàng có mùi hôi nồng, vị chua ngọt, ăn được.

Cây mọc nơi đất thấp, ngập nước, quần thể gồm các loại thảo mộc đại diện như sau:

 - Cây bàng, sách Gia định Thành thông chí gọi là không tâm bồ, cùng chủng loại có cói, lác, năn với vài chủng loại năn kim, năn phèn... thuộc họ cói (Cyberaceae). Cây bàng dùng để đan đệm, làm nón, bao bì, làm nóp... Trong kháng chiến chống Pháp, chiếc nóp bàng là quân trang thông dụng cho các chiến sĩ. Cây điên điển họ đậu, chịu nước, có hoa màu vàng rất đẹp và ăn được, thân và lá làm phân xanh rất tốt.

Họ bìm bìm (Convolvulaceae), cây bìm bìm mọc hoang dại trong các rừng tràm. Cây rau muống (Ipomoea retans), cùng họ, loại thân nâu đỏ, nhiều mủ, mọc hoang khá nhiều ở bưng bàu. Rau Muống trắng được trồng làm rau ăn. Họ bòng bong (Schizaeaceae), cây bòng bong (Lygodium micraphyllum), cũng mọc ở các vườn hoang, rừng tràm. Họ rau bợ (Marsileaceae), cây cỏ bợ (Marsilea quadrifolia L.) mọc nhiều ở đầm nước, ruộng lúa vùng ven Đồng Tháp Mười, người ta hái lá làm rau ăn và cũng để làm thuốc. Họ cỏ (Poaceae), cây sậy trước kia mọc thành rừng giờ trở nên hiếm hoi ở một vài địa phương. Cây hẹ nước, ăn với mắm kho rất ngon. Họ sen (Nenlumbonaceae) có sen trắng (Nelumbium alba), sen hồng (Nelumbium nelumbo), mọc hoang vùng ven Đồng Tháp Mười và được trồng ở ao, đìa lấy hoa, hạt. Họ súng (Nymphaeaceae), cây súng trắng (Nymphaea lotus), còn gọi súng cơm, mọc rất nhiều vào mùa nước nổi trên ruộng, cùng chủng loại có súng ma, thân nhỏ hơn; cây củ co, cho củ ăn được; cây súng đỏ, thân cọng to, hoa hồng đậm, giống nhập nội, thường được trồng ở ao, đìa làm rau ăn. Họ lúa có cây lúa ma (hay lúa trời) vượt nước, cho gạo rất ngon, nhưng năng suất kém. Họ ráy, cây bồn bồn mọc ở các bưng trũng ngập nước quanh năm, làm rau ăn rất ngon, nhất là món dưa bồn bồn.

Nhìn chung, quần thể thực vật tạm phân vùng kể trên có nhiều họ, loại cây cối bản địa và nhóm cây di thực có mặt từ hàng trăm năm trước. Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhiều chủng loại đã hầu như không còn, do quá trình khai hoang và cải tạo vườn, phát triển ngành nông nghiệp...và cũng do ý thức bảo tồn chưa cao, cây mới du nhập sau này dần dần lấn át cây bản địa.



Số khách:

Website thông tin kinh tế xã hội tỉnh Tiền Giang - www.tiengiang.gov.vn
Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang
Giấy phép do Cục báo chí cấp số: 477/GP-BC cấp ngày 29 tháng 10 năm 2004
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Chiến - Chánh Văn phòng UBND tỉnh Tiền Giang
Ban biên tập website Tiền Giang.
Địa chỉ: Số 23 đường 30/4 - Phường 1 – Thành phố Mỹ Tho
Điện thoại: 073.3977184, Email: bbtwebsite@tiengiang.gov.vn
® Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử tỉnh Tiền Giang" hoặc "www.tiengiang.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này