Tin tức -Sự kiện 
Giới thiệu chung 
Kinh tế - Xã hội 
Xúc tiến đầu tư tỉnh Tiền Giang năm 2010 
Đào tạo - Bồi dưỡng 
Thủ tục hành chính 
Tổ công tác thực hiện   Đề án 30 
Văn hóa - Du lịch  
Văn nghệ 
Kỷ lục Tiền Giang 
Số liệu Thống kê 
Giá cả thị trường 
Các doanh nghiệp 

Lịch làm việc của lãnh đạo

Thư điện tử

Lịch cúp điện - nước

Dự báo Thời Tiết tỉnh Tiền Giang

Thư viện Tiền Giang giới thiệu sách mới




 Tin tức -Sự kiện / Nông nghiệp - Phát triển nông thôn

Đồng bằng sông Cửu Long: Phát triển bền vững  nghề nuôi tôm - vấn đề cấp bách

Phong trào nuôi tôm sú đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong những năm qua phát triển rất nhanh về diện tích và mô hình nuôi, nhất là tôm sú. Tuy nhiên, sau gần mười năm chuyển dịch cơ cấu sản xuất, trình độ nuôi tôm ở đây vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ và hiệu quả thấp. Để tạo bước chuyển mới, các tỉnh trong vùng cần triển khai một số giải pháp phát triển nuôi tôm bền vững và bảo vệ môi trường, phấn đấu trở thành vùng nuôi trồng, xuất khẩu thủy sản chủ lực của cả nước.

Ao nuôi tôm sú ở Vàm Láng
Phát triển nhưng còn nhiều bất cập

Với nhiều vùng sinh thái đa dạng mặn-ngọt-lợ đan xen cho nên đã hình thành, phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện với nhiều loại cây con, nhất là nuôi trồng và khai thác thủy sản trở thành thế mạnh trong những năm gần đây ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Đến cuối năm 2008, diện tích nuôi tôm nước lợ của bảy tỉnh ven biển Nam Bộ là Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Trà Vinh, Tiền Giang và Long An lên tới gần 540 nghìn ha, chiếm hơn 89% tổng diện tích nuôi tôm của cả nước, trong đó chủ yếu là nuôi tôm sú. Diện tích nuôi tôm sú lớn nhất là Cà Mau 257 nghìn ha; Bạc Liêu 121,8 nghìn ha; Sóc Trăng 47,6 nghìn ha và Kiên Giang 77,2 nghìn ha. Trong đó, diện tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh chỉ đạt 47, 6 nghìn ha; còn lại là nuôi quảng canh, tập trung nhiều nhất ở hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu. Sản lượng sau thu hoạch, chỉ tính riêng ở các tỉnh ĐBSCL là 160,5 nghìn tấn, chiếm hơn 76% tổng sản lượng tôm của cả nước; nhiều nhất là Cà Mau 68,5 nghìn tấn, Bạc Liêu 36,2 nghìn tấn, Kiên Giang 13,6 nghìn tấn.

Tại Tiền Giang, đến cuối năm 2009, diện tích nuôi tôm toàn tỉnh là 4.423 ha, trong đó nuôi thâm canh tôm sú là 1.950,6 ha, tôm thẻ chân trắng là 532,44 ha, tôm quảng canh là 2.046 ha, chủ yếu tập trung ở 04 huyện phía Đông gồm: Gò Công Đông, Gò Công Tây, thị xã Gò Công và Tân Phú Đông. Tổng sản lượng tôm thu hoạch là 9.798 tấn, tăng 23% so với năm 2008, trong đó, tổng sản lượng thu hoạch tôm sú thâm canh là 6.634 tấn và sản lượng thu hoạch tôm sú quảng canh là 1048,5 tấn, tăng 28% so với năm 2008; sản lượng thu hoạch tôm thẻ 2.116,4 tấn, tăng 6,5% so với năm 2008.

Để khai thác thế mạnh nuôi tôm, những năm qua các địa phương đã triển khai nhiều dự án, công trình về thủy lợi, giao thông, điện; địa phương cũng huy động các nguồn lực với nguồn vốn đầu tư rất lớn để tăng sản lượng tôm nuôi trong toàn vùng. Đến nay, hàng loạt công trình thủy lợi gồm kênh, cống cấp 1, cấp 2 với tổng chiều dài hàng nghìn km và hệ thống kênh thủy lợi nội đồng của địa phương thực hiện được đưa vào khai thác, khép kín phục vụ nuôi trồng thủy sản.

Hiện các công trình thủy lợi này đã phát huy hiệu quả; là những cống đầu mối hữu ích giúp các địa phương ĐBSCL chủ động đóng mở cống điều tiết mặn, ngọt phục vụ chuyển đổi sản xuất cây trồng vật nuôi, nhất là cho nuôi tôm. Tuy nhiên, trong các năm gần đây, tình hình nuôi tôm sú của các tỉnh ĐBSCL gặp nhiều khó khăn, thách thức do biến động về giá. Riêng năm 2009, giá tôm ở mức cao do thị trường xuất khẩu thuận lợi và diện tích nuôi tôm toàn khu vực ĐBSCL giảm.

Một số tồn tại hiện nay là nguồn nhân lực chủ yếu là nông dân với trình độ tiếp thu khoa học - kỹ thuật vẫn còn hạn chế; mô hình nuôi nhỏ lẻ, tự phát; thiếu quy hoạch; hệ thống cấp thoát nước cho vùng nuôi bị ô nhiễm cục bộ, dịch bệnh, tôm chết xảy ra khá thường xuyên... Lý giải điều này, nhiều nông dân cho rằng do chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa "bốn nhà" - nhất là nhà nông, nhà khoa học và doanh nghiệp.

Kiểm tra ao nuôi tôm
Giải pháp phát triển bền vững

Với diện tích 540 nghìn ha trong đó chủ yếu là nuôi quảng canh cải tiến, nuôi kết hợp tôm-lúa-cá... thế nhưng, nghề nuôi tôm trong toàn vùng ĐBSCL còn bộc lộ thiếu vững chắc và không ổn định; tình trạng tôm chết, mất mùa diễn ra thường xuyên. Trong khi đó, nhiều địa phương còn thụ động, chậm triển khai quy hoạch tổng thể cho toàn vùng, vấn đề chuyển dịch nuôi trồng thủy sản theo hệ sinh thái mặn-ngọt-lợ đan xen chưa được xác lập một cách hợp lý. Mặt khác, hệ thống dịch vụ cung ứng tôm giống, thức ăn, chuyển giao kỹ thuật, chế biến, kiểm soát môi trường, cũng như cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi thủy sản vẫn không theo kịp yêu cầu.

Thấy được khó khăn này, ngành thủy sản các địa phương ĐBSCL đã và đang tích cực giải quyết một cách đồng bộ để nghề nuôi tôm đạt kết quả, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro gây thiệt hại cho người sản xuất.

 Trước mắt, cần thực hiện nghiêm Quyết định số 456/QĐ-BNN-NTTS ngày 04/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về điều kiện sản xuất giống, nuôi tôm thẻ chân trắng. Do tôm chân trắng là đối tượng dễ nuôi, thời gian nuôi ngắn, hiện đang có hiệu quả kinh tế cao hơn so với nuôi tôm sú cho nên người nuôi có xu hướng chuyển dần diện tích nuôi tôm sú sang nuôi tôm chân trắng. Về lâu dài, các tỉnh ĐBSCL cần rà soát và điều chỉnh bổ sung quy hoạch về nuôi trồng thủy sản phù hợp với thực tiễn; tránh tình trạng nuôi tự phát, không theo quy hoạch dẫn đến những rủi ro, thiệt hại.

Tăng cường đầu tư hạ tầng vùng nuôi tôm, nhất là hệ thống thủy lợi, đầu tư khoa học công nghệ và khuyến ngư trong lĩnh vực nuôi tôm; tổ chức lại sản xuất trên cơ sở xây dựng các hợp tác xã, tổ đội sản xuất, áp dụng mô hình quản lý cộng đồng trong nuôi trồng thủy sản nhằm hỗ trợ, giúp nhau trong sản xuất.

Từng địa phương chủ động quản lý tốt môi trường vùng nuôi, không xả nước thải ra môi trường chung quanh, bảo đảm vệ sinh môi trường và giúp nhau trong khâu tiêu thụ sản phẩm vào mùa thu hoạch rộ.

Tăng cường liên kết giữa sản xuất tôm nguyên liệu và chế biến xuất khẩu để tránh tình trạng tôm nguyên liệu rớt giá gây thiệt hại cho người nuôi.

Tôm sú
Xây dựng thông tin chung giữa người dân và doanh nghiệp; tránh tình trạng thu hoạch tôm đồng loạt vào chính vụ; định hướng lại phát triển thị trường; sản xuất và chế biến, cung cấp sản phẩm theo nhu cầu của thị trường cần, ví dụ như cung ứng tôm sú có kích cỡ lớn, nhỏ phù hợp yêu cầu khách hàng trong từng thời điểm khác nhau ...

Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, việc điều chỉnh bổ sung quy hoạch, chuyển đổi sản xuất trong vùng phải được các nhà khoa học tham gia và đông đảo nông dân đồng tình. Quá trình điều chỉnh quy hoạch không cứng nhắc mà phải theo tư duy mở, phải luôn bảo đảm hiệu quả trên một đơn vị diện tích đất sử dụng; hiệu quả về kinh tế - xã hội, môi trường phát triển bền vững. Phải biết khai thác, biến lợi thế đa dạng sinh thái mặn-ngọt-lợ đan xen thành lợi thế về kinh tế, trong đó lợi thế số một ở đây là nuôi tôm và các loài thủy sản có giá trị cao.

Thiết nghĩ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tăng cường khâu hỗ trợ vốn để thực hiện đầu tư thủy lợi linh hoạt, chủ động được mặn-ngọt... cho các dự án phát triển nuôi tôm nước lợ; triển khai quy trình công nghệ sử dụng chế phẩm sinh học; trại sản xuất con giống đạt chuẩn quốc gia; xây dựng hoàn thiện quy trình bảo quản chế biến sản phẩm; tăng cường chuyển giao khoa học - kỹ thuật, mở rộng thị trường tiêu thụ, tránh tình trạng bị ép giá khi vào mùa thu hoạch rộ tại khu vực ĐBSCL.

Các địa phương cũng cần có bước đi và giải pháp về quy hoạch, định hướng vùng nuôi phải cụ thể, an toàn, bền vững; quản lý chặt chẽ con giống, nhất là con giống tôm thẻ chân trắng.

Nâng cao ý thức người dân không để lập lại tình trạng chuyển dịch theo kiểu tự phát tràn lan như đã qua; nhất là cần thận trọng khi phát triển loại đối tượng nuôi tôm thẻ chân trắng; chú ý không phải chỗ nào cũng đưa nước mặn vào sâu nội đồng ảnh hưởng bất lợi đến môi trường sinh thái vùng nuôi.

Bài, ảnh: Trí Quang

Các tin khác
  • ĐBSCL: Vụ tôm chính năm 2010 - nuôi tôm sú hay tôm thẻ  6-2-2010
  • Tập trung cho vụ hoa kiểng phục vụ Tết  4-2-2010
  • Năm 2009 Cai Lậy xây dựng 9 cống đập thoát lũ  3-2-2010
  • Tiền Giang đánh số vùng nuôi thủy sản  3-2-2010
  • Cây khoai mỡ có giá: Nông dân xã Phú Mỹ trúng lớn  31-1-2010
  • Tiền Giang: Một nông dân trồng mận An Phước nhiều nhất khu vực  28-1-2010
  • Tháo gỡ khó khăn cho nghề khai thác biển ở đồng bằng sông Cửu Long  26-1-2010
  • Tiền Giang: Trồng gần 4.500 ha màu phục vụ Tết Nguyên đán  21-1-2010
  • Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang thực hiện đạt các chỉ tiêu kế hoạch năm 2009  21-1-2010
  • Kỷ niệm 225 năm Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút (20/01/1785 - 20/01/2010): Kim Sơn - điển hình về chuyển đổi nông nghiệp hiệu quả cao  19-1-2010
  • Xem tiếp >



    Số khách:

    Website thông tin kinh tế xã hội tỉnh Tiền Giang - www.tiengiang.gov.vn
    Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang
    Giấy phép do Cục báo chí cấp số: 477/GP-BC cấp ngày 29 tháng 10 năm 2004
    Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Chiến - Chánh Văn phòng UBND tỉnh Tiền Giang
    Ban biên tập website Tiền Giang.
    Địa chỉ: Số 23 đường 30/4 - Phường 1 – Thành phố Mỹ Tho
    Điện thoại: 073.3977184, Email: bbtwebsite@tiengiang.gov.vn
    ® Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử tỉnh Tiền Giang" hoặc "www.tiengiang.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này